👩‍💻 6 phút đọc.

Tận thế luôn là một nguồn cảm hứng bất tận cho các nền điện ảnh. Nhưng khi nhắc đến sự kết thúc của nhân loại, người ta thường nghĩ đến những đám mây hình nấm khổng lồ xuất hiện trên các “điểm nóng” toàn cầu hay những con robot, siêu trí tuệ nhân tạo thống trị thế giới. Họ dường như đã bỏ qua những sát thủ vô hình luôn kề cạnh con người từ lúc chúng ta còn chưa biết đến lửa là gì: những sinh vật chỉ có thể được nhìn thấy qua kính hiển vi.

Sau 2 thập kỷ (thập niên 50, 60) sức mạnh hạt nhân reo giắc nỗi sợ vào lòng người xem, một bộ phim mô tả thảm họa khi xã hội loài người dần tan rã khi một chủng virus bí ẩn làm bùng nổ một trận đại dịch. The Andromeda Strain (1971) ra đời. Và Hollywood có thêm một vùng trời nữa để khai phá.

Bước vào năm 2000, Hollywood cũng kịp sáng tạo ra hàng loạt hình dạng của những cơn dịch bệnh mà phổ biến nhất là hình tượng những thây ma sinh ra từ những con virus bí ẩn. Và rồi thể loại này cũng dần bão hòa, cũng như bị đóng khung vào các xác chết biết đi. Nhưng vẫn có những nhà làm phim miệt mài đi tìm những chất liệu mới để tái định nghĩa nỗi sợ thuần túy mà dòng phim đại dịch-tận thế từng mang lại.

12 Monkeys (1995)

12 Monkeys (1995) kể về một trận đại dịch bùng nổ vào năm 1996 được cho là do một đội quân mang tên 12 Monkeys gây nên và gần như tận diệt loài người. Năm 2035, các nhà khoa học chế tạo thành công cỗ máy thời gian. Họ chọn James Cole (Bruce Willis) làm người quay về quá khứ để tìm chủng virus ban đầu của trận đại dịch và đưa về tương lai nhằm chế tạo vaccine. Nhưng thời điểm mà Cole được đưa về lại là năm 1990. Từ đây, anh phải truy tìm những “con khỉ” sẽ đem tận thế đến loài người.

12 Monkeys là một bộ phim đi trước thời đại với các yếu tố khoa học viễn tưởng. Ảnh: IMDb.

Khác với bộ phim sinh ra trong năm 2000, 12 Monkeys là một bộ phim thuần tính khoa học viễn tưởng và tập trung vào giai đoạn trước khi dịch bệnh xảy đến. Phim là một hỗn hợp hoàn hảo giữa các yếu tố khoa học, ly kỳ, hành động, điều tra, diễn xuất chất lượng, plot-twist, bầu không khí báo trước sự tuyệt vọng, và một thông điệp mang tính nhân văn.

Quarantine (2008)

So với các bộ phim lấy chủ đề dịch bệnh thây ma vào đầu năm 2000, như 28 Days Later (2002), 28 Weeks Later (2007), I am Legend (2007), Quarantine (2008) là một bộ phim khác biệt trong cách xây dựng. Bộ phim được làm hoàn toàn theo phong cách giả tài liệu với những cảnh quay từ ngôi thứ nhất.

Quarantine được thực hiện bằng phong cách giả tài liệu. Ảnh: IMDb.

Sự rung lắc của chúng kết hợp với nỗi sợ hiện hữu ngoài tầm mắt người xem làm bộ phim như được khoác một màu sắc kinh dị mới. Không phụ thuộc vào các pha hù dọa hay hình tượng khát máu của những người bị nhiễm bệnh, Quarantine làm người xem khiếp sợ bằng bầu không khí hiểm họa, cảm giác bị bỏ rơi, không gian tăm tối và những gì ẩn khuất sau màn hình máy quay hạn hẹp.

Quarantine theo chân phóng viên Angela và người quay phim của cô Scott trong một phóng sự về cuộc sống của lính cứu hỏa. Nhưng trong một lần tác nghiệp, cả hai bị mắc kẹt trong một tòa nhà bị CDC (Cơ quan Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Kỳ) cách ly nghiêm ngặt. Bị bỏ rơi, lời cầu cứu không được ai đáp lại, không một thông tin nào được đưa ra, cả 2 giờ phải đương đầu với mối nguy hiểm lẩn khuất trong tòa nhà này.

Daybreakers (2009)

Không biến con người thành thây ma, không làm họ tử vong, thứ virus trong Daybreakers lại cho con người sự bất tử, sức mạnh phi thường, và các giác quan nhanh nhạy, với điều kiện họ phải uống máu thường xuyên. Con người, nguồn máu chính, lại ngày càng ít đi.

Daybreakers miêu tả một xã hội nơi nhân loại đã đầu hàng bệnh dịch. Ảnh: IMDb.

Daybreakers có mặt trong danh sách này vì nó đề cập đến một khía cạnh tối quan trọng khi một cơn đại dịch bùng phát. Đó là nhân tính. Daybreakers đưa ra hai luồng tư tưởng giữa hai phe là ma cà rồng và con người. Bộ phim mô tả một xã hội nơi virus đã thỏa ước mơ tối thượng của loài người, làm cho họ bất tử.

Nhưng chính điều đó lại đem đến một thảm họa khác: nạn đói. Và tất cả những sự tuyệt vọng, những vấn đề về an sinh xã hội, cán cân ổn định lại một lần nửa bị đặt vào thế mong manh. Câu hỏi đặt ra là nhiêu đó có đủ làm con người từ bỏ tham vọng quyền lực và chấp nhận sự yếu ớt của chính mình?

Blindness (2008)

Blindness nói về một căn bệnh lạ khiến người mắc phải trở nên mù lòa được gọi là “Bệnh trắng” (vì nó làm tầm nhìn của người nhiễm thành một màu trắng toát). Không có thuốc chữa, không có thông tin rõ ràng, người mắc bệnh ngày một nhiều lên, căn bệnh nhấn chìm một xã hội quy củ vào hoảng loạn tột bậc.

Blindness, đúng như tên gọi khắc họa một chính quyền giả tưởng độc tài. Ảnh IMDb.

Chính phủ quyết định cách ly tất cả người bệnh. Vấn đề là thay vì được đối xử như những bệnh nhân cần được chăm sóc, người bị nhiễm bị dồn vào trại tập trung và bị bỏ mặc. Dường như chính phủ muốn căn bệnh biến mất theo cái chết của họ.

Không có những pha rượt đuổi, không quái vật dị dạng, Blindness khắc họa những hệ quả không sinh ra từ căn bệnh không thuốc chữa, mà từ sự thiếu minh bạch và tính tàn nhẫn của chính quyền trong việc giải quyết mối hiểm họa. Khác với đa số phim cùng thể loại, Blindness lại mang đến hi vọng cho người xem trong giờ khắc đại họa.

Contagion (2011)

Nếu có một bộ phim về đại dịch làm khán giả hiện nay phải lặng người, đó là Contagion (2011). Bộ phim theo chân các nhà khoa học chạy đua với thời gian khi một căn bệnh bí ẩn được đem đến Mỹ. Nó nhanh chóng bùng phát thành bệnh dịch và sau cùng là đại dịch toàn cầu.

Contagion theo chân các nhà khoa học phòng chống dịch bệnh. Ảnh: NY Times.

Một cách làm mới lại thể loại tận thế vì đại dịch là quay về khía cạnh hiện thực của một trận đại dịch, tức là áp dụng khía cạnh y học (chủng loại, sự hình thành, cấu trúc…) của nó thay vì tính viễn tưởng (hóa người thành thây ma). Contagion càng xem càng giống một lời tiên tri về tương lai của nhân loại hơn là một bộ phim khoa học viễn tưởng xa vời.

Vào thời điểm ra mắt, phim được các chuyên gia y tế khen ngợi khi có thể đưa quá trình chống dịch lên phim một cách sát với thực tế nhất. Contagion năm ấy khắc họa một cảnh tượng chỉ tìm thấy ở năm 2020. Đó là một hỗn hợp độc hại giữa tin giả, hoảng loạn vô căn cứ, sự bất nhất của chính quyền, và tham vọng chính trị. Chúng hầu như dập tắt hi vọng chữa trị căn bệnh này.

The Girl with All the Gifts (2016)

Nhân vật chính của The Girl with All the Gifts (TGWATG) là một thây ma lai người Melanie. Cô bé là thành quả của sự thích nghi trước đại dịch xuất phát từ một loại nấm thây ma biến thể (loại thường ký sinh lên côn trùng và bắt chúng leo lên cao nhất có thể. Tại đây, bào tử ký sinh sẽ giết chết vật chủ và chui ra ngoài, vươn cành, kết hoa nhằm phát tán thêm bào tử. Các bào từ này sẽ bắt đầu lại vòng đời ký sinh).

TGWATG là bộ phim sở hữu đoạn kết nhiều tầng ý nghĩa. Ảnh: HPR.

Melanie thèm khát máu thịt nhưng có vẫn còn lý trí và có thể học hỏi. Cô bé và hàng chục những đứa trẻ tương tự được cách ly nhằm tìm thuốc chữa. Mọi chuyện rắc rối hơn khi các nhà khoa học phát hiện nấm thây ma đã phát triển thành khổng lồ. Hàng tỷ bào tử của chúng khi được phát tán sẽ chấm dứt lượng con người ít ỏi còn sót lại.

Dịch bệnh là thứ đe dọa sự tồn vong của con người. Đại dịch đen trong quá khứ đã xóa xổ một nửa dân số của châu Âu. Sự phát triển của những chủng virus như thế này sẽ dẫn đến sự suy tàn của con loài người. Nhưng nếu chúng ta có thể tiến hóa từ nó thì sao? Đó là câu hỏi mà TGWATG đặt ra. Và câu trả lời nằm ở cái kết mang nhiều tầng ý nghĩa của phim.

The Cured (2017)

Quay lại với đại dịch thây ma quen thuộc, nhưng The Cured lại đề cập đến một khía cạnh được coi là mới mẻ của thể loại này. Chuyện gì sẽ xảy ra khi người nhiễm bệnh được chữa khỏi?

The Cured lấy mốc thời gian một năm sau khi virus Maze càn quét qua châu Âu, biến người nhiễm thành những thây ma khát máu. Lúc này, một loại thuốc đã được chế tạo có thể đảo ngược tác hại của virus, để những người nhiễm thành người trở lại. Nhưng ký ức về giai đoạn họ bị thây ma hóa thì vẫn còn đọng lại, khiến những người khỏi bệnh rơi vào trạng thái trầm cảm do không chịu được sự man rợ của họ trong quá khứ. Bộ phim tập trung vào hai nhân vật Senan và Conor đã được chữa khỏi bệnh và được phóng thích nhằm tái hòa nhập vào xã hội. Nhưng chuyện nào có tốt đẹp đến thế.

The Cured kể câu chuyện của người bệnh sau cơn dịch. Ảnh: LA Times.

Điều làm The Cured nổi bật giữa hàng ngàn các bộ phim về thây mà là ở tính sáng tạo. Ít có bộ phim nào đi khám phá quá trình phục hồi của thây mà cả. Vì nó không giật gân như quá trình chạy trốn và sống sót của những người bị chúng săn lùng. The Cured cũng thế. Mạch phim chậm rãi và hiếm những phân cảnh bạo lực.

Nhưng The Cured lại mang đến một khái niệm mới về những cái xác biết đi: những thây ma biết suy nghĩ và cảm nhận. Nếu Warm Bodies (2013) trước đây thể hiện điều này theo cách rất đáng yêu, The Cured lại mô tả hình tượng nay theo cách vô cùng gai góc, đen tối, những cũng không kém phần nhân văn, đặc biệt là qua màn cao trào vô cùng đẫm máu cuối phim.